Nhà tài trợ
Quảng cáo
Lượt truy cập: 277708
Đang trực tuyến: 6
 
 
Tìm kiếm:  
Khoa ngoại lồng ngực tim mạch

Quá trình hình thành và phát triển
-      Vào năm 1986, phẫu thuật tách van 2 lá tim kín lần đầu tiên được tiến hành tại Bệnh viện Trung ương Huế.
-      Một thời gian dài, chúng tôi duy trì phẫu thuật tách van tim kín và còn ống động mạch ở trẻ nhỏ, tuy nhiên số lượng không nhiều.
-      Mãi đến năm 1999, phẫu thuật tim có tuần hoàn ngoài cơ thể đầu tiên được triển khai cho một bệnh nhân hẹp ba thân động mạch vành.
-      Năm 2000, khoa Ngoại Lồng ngực Tim mạch được hình thành và duy trì hoạt động phẫu thuật tim hở ổn định, mỗi năm duy trì khoảng 200-300 trường hợp phẫu thuật tim hở.
-      Đến đầu tháng 01 năm 2007, Trung tâm Tim mạch – Bệnh viện Trung ương Huế được khánh thành, là 1 trung tâm hoàn chỉnh và hiện đại nhất Việt Nam vào giai đoạn này, nhiệm vụ chính của trung tâm là chẩn đoán, điều trị và chăm sóc chủ yếu cho các bệnh nhân tim mạch miền Trung và Tây Nguyên, tuy nhiên, cũng không ít các bệnh nhân từ rất nhiều vùng miền khác nhau của đất nước đến trung tâm điều trị.
-      Ngoài ra, khoa Ngoại Lồng ngực Tim mạch cũng tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo đại học, sau đại học cũng như đào tạo các nhóm tay nghề, xây dựng cho các bệnh viện các kíp mổ tim ở mọi miền khác nhau của đất nước.
-      Từ ngày thành lập trung tâm đến nay, lĩnh vực phẫu thuật tim hở của khoa Ngoại Lồng ngực Tim mạch ngày càng phát triển, nâng cao số lượng ca mổ, đa dạng hình các phẫu thuật, kỹ thuật khác nhau từ tim bẩm sinh cho đến phẫu thuật tim người lớn, cũng như các phẫu thuật về bệnh lý phổi và mạch máu.
-      Mỗi năm, khoa phẫu thuật cho khoảng 600 bệnh tim người lớn bao gồm:
+   Bệnh lý động mạch chủ: phình, lóc động mạch chủ ngực, quai động mạch chủ có kết hợp hay không đặt stent graft động mạch chủ ngực, bụng.
+   Bệnh van tim: sửa van 2 lá, sửa van động mạch chủ theo kĩ thuật Ozaki, thay van nhân tạo các loại.
+   Bệnh lý động mạch vành: khoa lựa chọn nhiều kĩ thuật có thể triển khai kĩ thuật không cần tuần hoàn ngoài cơ thể hoặc liệt tim tùy theo từng trường hợp.
+   Phẫu thuật nôi soi (ít xâm lấn) đối với bệnh lý thông liên nhĩ, thông liên thất, cắt u nhầy nhĩ
-      Mỗi năm, có khoảng 400 trường hợp trẻ em được mổ, gần như tất cả các kĩ thuật hiện đại đều đã được triển khai: phẫu thuật đóng thông liên thất, thông liên nhĩ, phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot, teo van động mạch phổi có thông liên thất hoặc không có thông liên thất, kênh sàng nhĩ thất, thất phải hai đường ra, thân chung động mạch, chuyển vị đại động mạch, heo eo động mạch chủ, gián đoạn quai động mạch chủ, bất thường động mạch vành, phẫu thuật Rasteli, phẫu thuật BT shunt, phẫu thuật Norwood trong hội chứng thiểu sản thất trái, phẫu thuật Glenn, phẫu thuật Fontan... Đặc biệt chúng tôi đã tiến hành phẫu thuật qua đường mổ nhỏ ở nách, ít biến chứng và thẩm mỹ đối với các bệnh lý tim bẩm sinh như: thông liên thất và thông liên nhĩ.
-      Ngoài ra, mỗi năm khoa phẫu thuật và điều trị cho trên 500 trường hợp bệnh lý phổi và mạch máu. Đã triển khai nhiều kĩ thuật nội mạch cũng như cắt phổi nội soi.
-      Khoa đã tiến hành ghép tim phổi cho một trường hợp và ghép tim cho 7 trường hợp được danh dự nhận bằng khen của Thủ Tướng Chính Phủ và Bộ Y Tế.
-      Hiện tại khoa có 17 bác sĩ, trong đó có có 3 bác sĩ đến từ trường đại học y dược huế sĩ (01 phó giáo sư, 02 bác sĩ chuyên khoa cấp 2, 08 thạc sĩ, 06 bác sĩ).
-      Trong những năm gần đây, khoa cũng đã hoàn thành các đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước và cấp bộ.

Trưởng khoa:

BSCKII. TRẦN HOÀI ÂN

Phó Trưởng khoa:                                                              Phó Trưởng khoa:

PGS.TS.BS Lê Quang Thứu                                                 ThS.BS. Nguyễn Đức Dũng

                                                             

Tập thể khoa Ngoại Lồng ngực – Tim mạch 

Phẫu thuật viên
Khoa phòng:
-      117 giường
-      Số bệnh nhân từ 100-125 BN/ngày
-      Công suất sử dụng giường bệnh: 108,70%

 Một số hình ảnh nổi bật về chuyên môn

Hình ảnh về đặt stentgraft động mạch chủ ngực (kèm phẫu thuật chuyển vị)